Tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ trả nợ và quyền nuôi con khi ly hôn là vấn đề thường gặp. Luật sư tư vấn ly hôn và giải đáp một số quy định pháp lý về vấn đề này.

1, Quyền nuôi con khi ly hôn được quy định như thế nào?

Theo Điều 81 Mục 1 Chương V Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền nuôi con sau ly hôn được quy định như sau:

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn giữ quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên (dưới 18 tuổi), con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống, theo Luật hôn nhân gia đình 2014, Bộ luật dân sự 2015 và các luật khác có liên quan.

Vợ và chồng có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau ly hôn đối với con. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ quyết định người trực tiếp nuôi con dựa trên quyền lợi của con. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án sẽ xem xét nguyện vọng của con.

Trẻ dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ nuôi dưỡng, trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con hoặc nếu cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Pháp luật đảm bảo quyền lợi của con khi ly hôn. Việc thỏa thuận giữa vợ và chồng về nuôi dưỡng con sau ly hôn được khuyến khích. Nếu không có thỏa thuận, Tòa án sẽ can thiệp để quyết định hợp lý, tập trung vào lợi ích của con.

Tòa án sẽ xem xét giao quyền nuôi con cho cha hoặc mẹ có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Quy định này đảm bảo con có môi trường ổn định và được chăm sóc tốt sau khi cha mẹ ly hôn. Tất cả quyền và nghĩa vụ này được thiết lập để con nhận được sự quan tâm và hỗ trợ cần thiết, bất kể hoàn cảnh sau ly hôn.

2, Điều kiện giành quyền nuôi con khi ly hôn

Căn cứ theo các quy định nêu trên, cha mẹ muốn giành quyền nuôi con khi ly hôn cần đáp ứng các điều kiện về kinh tế và tinh thần. Cụ thể:

Điều kiện về cơ sở vật chất: nơi ở ổn định, tài chính, sinh hoạt, môi trường học tập, giáo dưỡng. Cha mẹ có thể trình giấy tờ chứng minh khả năng tài chính và cách nuôi dưỡng con cái lên Tòa. Đây là yếu tố quan trọng quyết định quyền nuôi con.

Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp cầm cố nhà đất bằng giấy viết tay

Cha hoặc mẹ nhận quyền nuôi con phải đảm bảo năng lực tài chính để con có cuộc sống ổn định và điều kiện sinh hoạt tốt.

Điều kiện về tinh thần: thời gian chăm sóc, giáo dưỡng, tình cảm, môi trường sinh sống, học tập, vui chơi giải trí. Bên cha hoặc mẹ phải dành thời gian chăm sóc, tạo môi trường phát triển cho con, đảm bảo con được yêu thương và không bị bạo hành hay tiếp xúc với tệ nạn xã hội.

Cha mẹ có quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và quyền của mỗi người sau khi ly hôn. Nếu không thỏa thuận được, người muốn nuôi dưỡng cần chứng minh khả năng đáp ứng quyền lợi chính đáng của con theo các điều kiện nêu trên.

Pháp luật quy định rằng con dưới 36 tháng tuổi sẽ do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện. Trẻ từ 07 tuổi trở lên có quyền chọn người chăm sóc theo nguyện vọng của mình.

Như vậy, điều kiện nuôi con sau ly hôn sẽ do cha mẹ thỏa thuận. Nếu không thành, Tòa sẽ quyết định theo quy định của pháp luật.

3, Quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn chỉ thực hiện khi có chứng minh người này không đủ điều kiện nuôi dưỡng hoặc có thoả thuận khác giữa cha mẹ.

Theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, điều kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn quy định như sau:

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau:

  • Cha, mẹ thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con.
  • Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
  • Nếu cả cha và mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp có căn cứ theo quy định, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

  • Người thân thích.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.
  • Hội liên hiệp phụ nữ.

Như vậy, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn xảy ra khi có chứng minh người đảm nhận nuôi con không đủ điều kiện hoặc có thoả thuận khác từ cha mẹ, hoặc có yêu cầu thay đổi từ những người có thẩm quyền theo quy định.

4, Nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con sau ly hôn

Theo Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn như sau:

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này. Họ cũng có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Như vậy, cha mẹ trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc nuôi dưỡng để gây cản trở quyền thăm nom của người kia.

Xem thêm:  Đất bị người khác đứng tên sổ đỏ lấy lại bằng cách nào?

5, Nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn

Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng và tôn trọng quyền sống chung của con với người nuôi dưỡng. Người không nuôi dưỡng có quyền thăm nom mà không bị cấm cản.

Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người nuôi dưỡng.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
  • Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Nếu cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

Như vậy, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải cấp dưỡng cho con chưa thành niên và có quyền thăm nom mà không ai được gây trở ngại.

6, Quy định hạn chế quyền nuôi con khi ly hôn

Quy định về việc hạn chế quyền nuôi con sau ly hôn được pháp luật xác định cụ thể như sau:

6.1, Trường hợp hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Theo Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau:

  • Bị kết án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • Phá tán tài sản của con.
  • Có lối sống đồi trụy.
  • Xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, đạo đức xã hội.

Tòa án có thể tự quyết định hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

6.2, Hậu quả pháp lý khi cha, mẹ bị hạn chế quyền nuôi con chưa thành niên

Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về hậu quả pháp lý khi cha, mẹ bị hạn chế quyền nuôi con chưa thành niên như sau:

Khi cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên, người kia sẽ thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau:

  • Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
  • Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con.
  • Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con và chưa xác định được bên còn lại của con.

Cha, mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Xem thêm:  Thủ Tục Ly Hôn Gồm Những Giấy Tờ Gì? Mất Thời Gian Bao Lâu?

7, Một số câu hỏi về quyền nuôi con khi ly hôn

7.1, Thu nhập bao nhiêu thì được quyền nuôi con?

Pháp luật không quy định mức thu nhập cụ thể để giành quyền nuôi con. Tòa án sẽ phân xử cho bên nào đáp ứng được quyền lợi chính đáng của con.

Trẻ dưới 36 tháng tuổi sẽ do mẹ nuôi dưỡng, và trẻ từ 07 tuổi trở lên sẽ xét theo nguyện vọng của con.

Việc xét thu nhập để giành quyền nuôi con cần xem xét nhiều yếu tố như thu nhập của cha hoặc mẹ, độ tuổi của con, mức sống địa phương, hoàn cảnh gia đình.

7.2, Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn được quy định như thế nào?

Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau ly hôn thuộc về người không trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng kéo dài đến khi con đủ tuổi thành niên, có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để tự nuôi mình.

Theo Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con được quy định như sau:

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2015 cũng quy định:

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

7.3, Mức cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn được quy định như thế nào?

Pháp luật không có quy định cụ thể về số tiền cấp dưỡng sau ly hôn. Mức cấp dưỡng sẽ do các bên liên quan thỏa thuận dựa trên mức thu nhập thực tế và khả năng chu cấp.

Theo Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, mức cấp dưỡng sau ly hôn được quy định như sau:

Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Nếu không thỏa thuận được, yêu cầu Tòa án giải quyết.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

7.4, Chồng có quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi ly hôn không?

Có. Theo khoản 3, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nếu người mẹ không đủ điều kiện nuôi hoặc hai vợ chồng có thỏa thuận khác, người chồng sẽ có quyền nuôi con.

Ví dụ: Người mẹ không đủ điều kiện nuôi (đang chấp hành án phạt tù, bị bệnh không thể chăm sóc con hoặc nếu chăm sóc sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của con, có lối sống buông thả, nghiện ma túy, hoặc có hành vi bạo hành đối với con có thể chứng minh được).

5/5 - (2 bình chọn)